
Giá vàng thế giới tiếp tục chịu áp lực giảm trong phiên giao dịch ngày 14/10 sau khi số liệu lạm phát Mỹ cao hơn dự báo làm gia tăng khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất. Theo cập nhật rạng sáng 15/10, giá vàng thế giới được niêm yết ở mức 4.105,3 USD/ounce.
Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương khoảng 129,5 triệu đồng/lượng, chưa bao gồm thuế và phí. So với giá bán vàng miếng SJC tại VietinBank Gold, hiện ở mức 143,3 triệu đồng/lượng, giá vàng thế giới thấp hơn khoảng 13,8 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường trong nước, theo bảng giá VietinBank Gold, vàng miếng SJC dạng 1 lượng được niêm yết ở mức 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch giữa hai chiều mua và bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được niêm yết ở mức 139,8 - 142,8 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ có giá 139,8 - 142,9 triệu đồng/lượng.

Đối với vàng nhẫn SJC 9999, loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được VietinBank Gold niêm yết ở mức 139,8 - 142,8 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá 139,8 - 142,9 triệu đồng/lượng.
Ở nhóm nữ trang, nữ trang VGJ 9999% và nữ trang SJC 9999% cùng được niêm yết ở mức 137,3 triệu đồng/lượng mua vào và 141,8 triệu đồng/lượng bán ra.
Theo nội dung cập nhật thị trường, các thương hiệu SJC, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ và DOJI đồng loạt giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống mức 140,3 - 143,3 triệu đồng/lượng đối với vàng miếng. Riêng vàng miếng Phú Quý giảm 700.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 1 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, xuống 139,8 - 143,3 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm tại nhiều thương hiệu. SJC và PNJ cùng giao dịch ở mức 139,8 - 142,8 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn DOJI ở mức 139 - 143 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn Phú Quý được niêm yết ở mức 139,8 - 142,8 triệu đồng/lượng, còn vàng nhẫn tròn Bảo Tín Mạnh Hải có giá mua vào 138 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.680 đồng/USD mua tiền mặt, 25.710 đồng/USD mua chuyển khoản và 26.090 đồng/USD bán ra.
Một số ngoại tệ đáng chú ý khác gồm EUR ở mức 28.245,12 - 28.530,42 - 29.734,91 đồng; GBP 33.474,20 - 33.812,32 - 34.895,99 đồng; JPY 157,41 - 159 - 168,25 đồng; AUD 17.693,58 - 17.872,30 - 18.445,10 đồng.
SGD được niêm yết ở mức 19.676,75 - 19.875,50 - 20.553,58 đồng; THB 680,43 - 756,04 - 788,11 đồng; CAD 17.761,44 - 17.940,85 - 18.515,85 đồng; CHF 30.299,56 - 30.605,61 - 31.586,51 đồng.
Tỷ giá HKD ở mức 3.207,08 - 3.239,47 - 3.363,42 đồng; CNY 3.771,71 - 3.809,81 - 3.931,91 đồng; DKK 3.806,94 - 3.952,61 đồng; INR 270,72 - 282,38 đồng và KRW 16,77 - 18,63 - 20,22 đồng.























