
Giá vàng thế giới chốt tuần giảm mạnh, chịu sức ép từ lợi suất trái phiếu Mỹ tăng, đồng USD mạnh lên và kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Giá vàng giao ngay đầu tuần ở mức 4.383 USD/ounce. Kim loại quý có thời điểm tăng khi thị trường theo dõi các diễn biến tại Trung Đông và những rủi ro liên quan đến eo biển Hormuz, nhưng chỉ lên mức cao nhất tuần 4.387 USD/ounce trước khi quay đầu giảm.
Trên thị trường trong nước, bảng giá VietinBank Gold hiện niêm yết vàng miếng SJC ở mức 142,4 triệu đồng/lượng mua vào và 145,4 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch giữa giá mua và bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được niêm yết ở mức 141,9 - 144,9 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ có giá 141,9 - 145 triệu đồng/lượng.

Đối với vàng nhẫn SJC 9999, loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được VietinBank Gold niêm yết ở mức 141,9 - 144,9 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá 141,9 - 145 triệu đồng/lượng.
Ở nhóm nữ trang, nữ trang VGJ 9999% và nữ trang SJC 9999% cùng được niêm yết ở mức 139,4 - 143,9 triệu đồng/lượng.
So với cuối tuần trước, nguồn tin cho biết giá vàng miếng SJC giảm 3,2 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Giá vàng nhẫn SJC loại 1 - 5 chỉ cũng giảm tương ứng 3,2 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều.
Giá vàng nhẫn trơn của Bảo Tín Minh Châu được niêm yết ở mức 141,4 - 145,4 triệu đồng/lượng, giảm 100.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều so với chốt phiên liền trước. Trong khi đó, vàng nhẫn DOJI không thay đổi, giao dịch ở mức 141,5 - 145,5 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.760 đồng/USD mua tiền mặt, 25.790 đồng/USD mua chuyển khoản và 26.170 đồng/USD bán ra.
Một số ngoại tệ đáng chú ý khác gồm EUR ở mức 28.831,13 - 29.122,36 - 30.351,69 đồng; GBP 33.506,79 - 33.845,25 - 34.929,80 đồng; JPY 158,73 - 160,34 - 169,69 đồng; AUD 17.791,31 - 17.971,02 - 18.546,89 đồng.
SGD được niêm yết ở mức 19.796,27 - 19.996,23 - 20.678,33 đồng; THB 687,04 - 763,38 - 795,76 đồng; CAD 17.902 - 18.082,83 - 18.662,29 đồng; CHF 30.532,49 - 30.840,90 - 31.829,18 đồng.
Tỷ giá HKD ở mức 3.218,84 - 3.251,35 - 3.375,74 đồng; CNY 3.771,99 - 3.810,09 - 3.932,18 đồng; DKK 3.885,92 - 4.034,59 đồng; INR 269,55 - 281,15 đồng và KRW 16,59 - 18,44 - 20 đồng.

























