
Giá vàng hôm nay 4/10 tiếp tục chịu áp lực giảm khi giá vàng thế giới đi xuống. Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay được niêm yết quanh ngưỡng 4.141,8 USD/ounce, tương đương khoảng 131,1 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa bao gồm thuế và phí.
So với giá vàng trong nước, mức giá thế giới quy đổi hiện thấp hơn khoảng 12,4 triệu đồng/lượng. Tính trong 30 ngày qua, giá vàng thế giới giảm 247,2 USD/ounce, tương đương 5,63%.
Theo bảng giá VietinBank Gold, vàng miếng SJC dạng 1 lượng được niêm yết ở mức 142,3 triệu đồng/lượng mua vào và 145,3 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch giữa giá mua và bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được niêm yết ở mức 141,8 - 144,8 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ có giá 141,8 - 144,9 triệu đồng/lượng.
Đối với vàng nhẫn SJC 9999, loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được VietinBank Gold niêm yết ở mức 141,8 - 144,8 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá 141,8 - 144,9 triệu đồng/lượng.
Ở nhóm nữ trang, nữ trang VGJ 9999% và nữ trang SJC 9999% cùng được niêm yết ở mức 139,3 - 143,8 triệu đồng/lượng.

Theo cập nhật, các thương hiệu SJC, PNJ, DOJI, Bảo Tín Mạnh Hải và Phú Quý đồng loạt giảm so với sáng hôm qua ở hầu hết các mặt hàng, với mức giảm nhiều nhất 600.000 đồng/lượng. Giá bán ra cao nhất được ghi nhận ở mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Đối với vàng nhẫn, diễn biến giữa các thương hiệu không đồng nhất. Mức giảm cao nhất là 600.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 100.000 đồng/lượng ở chiều mua vào. Giá bán ra cao nhất của vàng nhẫn cũng ở mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Theo Reuters, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm ghi nhận mức tăng theo quý lớn nhất trong một thế kỷ trong quý III. Lợi suất trái phiếu tăng thường gây bất lợi cho vàng, bởi kim loại quý không trả lãi, khiến chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng tăng lên khi nhà đầu tư có thể thu được lợi suất cao hơn từ trái phiếu.
Trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.760 đồng/USD mua tiền mặt, 25.790 đồng/USD mua chuyển khoản và 26.170 đồng/USD bán ra.

Một số ngoại tệ đáng chú ý khác gồm EUR ở mức 28.474,19 - 28.761,81 - 29.975,92 đồng; GBP 33.428,32 - 33.765,98 - 34.848 đồng; JPY 159,04 - 160,64 - 170,01 đồng; AUD 17.560,94 - 17.738,33 - 18.306,74 đồng.
SGD được niêm yết ở mức 19.771,51 - 19.971,22 - 20.652,47 đồng; THB 682,94 - 758,82 - 791,01 đồng; CAD 17.788,81 - 17.968,49 - 18.544,29 đồng; CHF 30.569,35 - 30.878,13 - 31.867,61 đồng.
Tỷ giá HKD ở mức 3.217,48 - 3.249,98 - 3.374,32 đồng; CNY 3.776,66 - 3.814,80 - 3.937,05 đồng; DKK 3.837,56 - 3.984,38 đồng; INR 268,21 - 279,75 đồng và KRW 16,67 - 18,52 - 20,09 đồng.


























