
Theo bảng giá VietinBank Gold, vàng miếng SJC dạng 1 lượng được niêm yết ở mức 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch giữa giá mua và bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được VietinBank Gold niêm yết ở mức 140 - 143 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ có giá 140 - 143,1 triệu đồng/lượng.
Đối với vàng nhẫn SJC 9999, loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được niêm yết ở mức 140 - 143 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá 140 - 143,1 triệu đồng/lượng.
Ở nhóm nữ trang, nữ trang VGJ 9999% và nữ trang SJC 9999% cùng được niêm yết ở mức 137,5 - 142 triệu đồng/lượng.
Trong khi ấy, các thương hiệu SJC, PNJ, DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải đồng loạt giữ giá vàng miếng ở mức quanh 140,5 - 143,5 triệu đồng/lượng. Phú Quý niêm yết ở mức 140,3 - 143,5 triệu đồng/lượng.

Ở phân khúc vàng nhẫn, SJC giữ nguyên giá 140 - 143 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn tròn Bảo Tín Mạnh Hải giảm 700.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, trong khi DOJI đi ngang ở mức 139,5 - 143,5 triệu đồng/lượng. PNJ giảm 200.000 đồng/lượng, còn Phú Quý tăng 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và giữ nguyên giá bán.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay sáng nay được niêm yết quanh ngưỡng 4.143 USD/ounce, tăng 3,5 USD/ounce trong 24 giờ qua. Giá vàng nhích lên trong phiên đầu tuần khi nhà đầu tư giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất trong tháng này, dù đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng đã hạn chế đà đi lên của kim loại quý.
Quy đổi theo tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank ở mức 26.190 đồng/USD, giá vàng thế giới tương đương khoảng 130,8 triệu đồng/lượng, chưa thuế và phí. So với giá bán vàng miếng SJC tại VietinBank Gold, giá vàng trong nước hiện cao hơn khoảng 12,7 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.780 đồng/USD mua tiền mặt, 25.810 đồng/USD mua chuyển khoản và 26.190 đồng/USD bán ra.
Một số ngoại tệ đáng chú ý khác gồm EUR ở mức 28.341,59 - 28.627,87 - 29.836,29 đồng; GBP 33.479,41 - 33.817,58 - 34.901,21 đồng; JPY 158,77 - 160,37 - 169,71 đồng; AUD 17.589,67 - 17.767,35 - 18.336,67 đồng.
SGD được niêm yết ở mức 19.760,49 - 19.960,09 - 20.640,93 đồng; THB 680,63 - 756,25 - 788,33 đồng; CAD 17.761,34 - 17.940,74 - 18.515,63 đồng; CHF 30.530,24 - 30.838,63 - 31.826,80 đồng.
Tỷ giá HKD ở mức 3.220 - 3.252,53 - 3.376,96 đồng; CNY 3.779,57 - 3.817,74 - 3.940,08 đồng; DKK 3.821,03 - 3.967,20 đồng; INR 268,47 - 280,03 đồng và KRW 16,71 - 18,56 - 20,14 đồng.





_m.jpg)



















