
Giá vàng thế giới tiếp tục chịu áp lực trong phiên sáng 16/9 khi đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ duy trì ở mức cao. Cập nhật lúc 7h52, giá vàng giao ngay trên thị trường quốc tế ở mức khoảng 4.286,3 USD/ounce, giảm 11,9 USD/ounce, tương đương 0,28% so với mức tham chiếu trước đó.
Trên thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC tại VietinBank Gold được niêm yết ở mức 142,3 triệu đồng/lượng mua vào và 145,3 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với ngày 15/9. Chênh lệch giữa giá mua và bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được VietinBank Gold niêm yết ở mức 141,8 - 144,8 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ có giá 141,8 - 144,9 triệu đồng/lượng.

Đối với vàng nhẫn SJC 9999, loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ được niêm yết ở mức 141,8 - 144,8 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá 141,8 - 144,9 triệu đồng/lượng.
Ở nhóm nữ trang, nữ trang VGJ 9999% và nữ trang SJC 9999% cùng được VietinBank Gold niêm yết ở mức 139,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,8 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại một số doanh nghiệp khác, DOJI tại Hà Nội và TP.HCM, Phú Quý SJC và PNJ cũng duy trì vàng miếng ở mức 142,3 - 145,3 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu có một số sản phẩm vàng Rồng Thăng Long ở mức 142,5 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Quy đổi theo tỷ giá hiện hành, giá vàng thế giới tương đương khoảng 135 triệu đồng/lượng. Với giá bán vàng miếng SJC tại VietinBank Gold ở mức 145,3 triệu đồng/lượng, giá vàng trong nước hiện cao hơn thế giới khoảng 10,27 triệu đồng/lượng.
Trước đó, giá vàng thế giới đã mất mốc 4.300 USD/ounce, với giá chốt phiên 14/9 quanh 4.298 USD/ounce. Áp lực lên kim loại quý gia tăng trong bối cảnh thị trường nâng kỳ vọng về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ.

Trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.745 đồng/USD mua tiền mặt, 25.775 đồng/USD mua chuyển khoản và 26.155 đồng/USD bán ra.
EUR ở mức 29.178,80 - 29.473,53 - 30.717,71 đồng; GBP ở mức 34.069,34 - 34.413,47 - 35.516,27 đồng; JPY ở mức 161,24 - 162,87 - 172,37 đồng.
AUD được niêm yết ở mức 18.023,91 - 18.205,97 - 18.789,39 đồng; SGD ở mức 19.846,96 - 20.047,43 - 20.731,29 đồng; THB ở mức 687,05 - 763,39 - 795,78 đồng.
CAD có giá 18.167,82 - 18.351,34 - 18.939,41 đồng; CHF 30.887,29 - 31.199,29 - 32.199,09 đồng; HKD 3.216,57 - 3.249,06 - 3.373,36 đồng.
CNY được niêm yết ở mức 3.770,71 - 3.808,79 - 3.930,85 đồng; DKK 3.932,70 - 4.083,16 đồng; INR 269,06 - 280,64 đồng và KRW 16,37 - 18,19 - 19,74 đồng.


























