
Sáng 20/8, giá vàng thế giới được niêm yết trên Kitco ở mức 4.520 USD/ounce, tăng 185 USD/ounce so với đầu giờ sáng qua. Giá vàng tăng rất mạnh nhờ đồng USD suy yếu và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm mạnh.
Bộ Tài chính Mỹ thông báo tăng quy mô một số hoạt động mua lại trái phiếu từ 2 tỷ USD lên ít nhất 4 tỷ USD trong hai tháng tới, qua đó góp phần hạ nhiệt lợi suất trái phiếu dài hạn. Lợi suất giảm làm giảm chi phí cơ hội nắm giữ vàng, trong khi đồng USD yếu đi khiến kim loại quý trở nên hấp dẫn hơn đối với người mua sử dụng các đồng tiền khác.
Lúc 6h00 ngày 20/8, giá vàng miếng tại SJC được niêm yết ở mức 139,7 triệu đồng/lượng mua vào và 142,7 triệu đồng/lượng bán ra, giảm 3,4 triệu đồng/lượng so với phiên giao dịch trước.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn SJC được niêm yết ở mức 139,2 - 142,2 triệu đồng/lượng, giảm 1,6 triệu đồng/lượng. Theo bảng giá VietinBank Gold, vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ cũng ở mức 139,2 - 142,2 triệu đồng/lượng, còn loại 0,5 chỉ là 139,2 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn SJC 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ có giá 139,2 - 142,2 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ được niêm yết ở mức 139,2 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Đối với nữ trang 9999%, VietinBank Gold niêm yết cả VGJ và SJC ở mức 136,2 - 140,7 triệu đồng/lượng. Nữ trang thương hiệu khác, hàm lượng 9999% chưa có giá mua và bán.
Sau khi chạm 4.450 USD/ounce trên thị trường giao ngay và 4.500 USD/ounce trên một số hợp đồng kỳ hạn, giá vàng đã điều chỉnh khoảng 140 USD. Tuy nhiên, lực mua quay trở lại vào cuối tuần cho thấy đợt chốt lời chủ yếu mang tính ngắn hạn.

Ở thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD được Vietcombank niêm yết ở mức 25.960 đồng mua tiền mặt, 25.990 đồng mua chuyển khoản và 26.370 đồng bán ra.
EUR ở mức 29.550,29 - 29.828,57 - 31.087,35 đồng; GBP ở mức 34.525,13 - 34.873,87 - 35.990,97 đồng; JPY ở mức 158,45 - 160,05 - 169,39 đồng.
AUD được niêm yết ở mức 18.066,13 - 18.248,61 - 18.833,16 đồng; SGD ở mức 19.942,54 - 20.143,98 - 20.830,87 đồng; THB ở mức 697,14 - 774,60 - 807,45 đồng.
CAD ở mức 18.360,56 - 18.546,02 - 19.140,09 đồng; CHF ở mức 31.427,10 - 31.744,55 - 32.761,41 đồng; HKD ở mức 3.243,34 - 3.276,11 - 3.401,40 đồng.
CNY được niêm yết ở mức 3.784,25 - 3.822,47 - 3.944,92 đồng; DKK ở mức 3.979,66 - 4.131,86 đồng; INR ở mức 272,05 - 283,76 đồng và KRW ở mức 16,07 - 17,86 - 19,38 đồng.

























