Argentina vô địch World Cup 1986 dưới vầng hào quang của Diego Maradona

18:57 ngày 17/11/2025
Đấy là giải đấu mà người ta chỉ quen nói về "Bàn tay của Chúa". Nhưng hơn cả thế, Diego Maradona đã phủ tầm ảnh hưởng bao trùm lên toàn bộ chiến dịch của Argentina, từ trận đầu tiên cho tới trận cuối cùng.

Giới thiệu

Lần thứ hai trong 5 kỳ World Cup, giải đấu được tổ chức tại Mexico. Và lần thứ hai trong ba kỳ, Argentina là đội lên ngôi vô địch.

Chiến thắng của họ, hơn bất kỳ kỳ World Cup nào trước đó hay kể từ đó, gắn liền với một cầu thủ duy nhất. Diego Maradona đã không thể bị ngăn cản trong suốt giải đấu, đến mức đội tuyển Argentina năm ấy đôi khi bị nhìn nhận là một tập thể hạn chế và thiếu những cầu thủ đẳng cấp hàng đầu khác.

Điều đó là không công bằng. Vấn đề không phải các cầu thủ khác không giỏi, mà là Maradona ở một đẳng cấp hoàn toàn khác.

HLV trưởng

Carlos Bilardo thường được mô tả như hình ảnh đối lập hoàn toàn của Cesar Luis Menotti, người từng đưa Argentina vô địch trên sân nhà 8 năm trước. Menotti là một người lãng mạn trong bóng đá, nói về môn thể thao này bằng thứ ngôn ngữ triết học. Ngược lại, Bilardo nổi tiếng là một kẻ cứng rắn, xuất thân từ đội Estudiantes đầy máu lửa của thập niên 1960, đội bóng từng ba lần liên tiếp vô địch Copa Libertadores.

“Với Menotti, bóng đá là niềm vui”, tiền đạo Jorge Valdano nói trong cuốn “World Cup Stories” của Chris Hunt (2006). “Còn với Bilardo, bóng đá là một phần của nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu đến từng tấc đất trên chiến trường”.

Bilardo bị ghét bỏ dữ dội trước khi World Cup tại Mexico diễn ra, nhưng ông bước ra khỏi giải đấu với tư cách một người hùng dân tộc, không chỉ nhờ chức vô địch mà còn vì ông đã trao cho Maradona sự tự do tối đa.

Một biểu ngữ trong số các CĐV Argentina ở trận chung kết ghi: “Xin lỗi, Bilardo. Cảm ơn ông”. Nhưng Bilardo thì không bao giờ mềm mỏng. Khi Argentina đang ăn mừng trong phòng thay đồ sau trận chung kết, ông yêu cầu họ trấn tĩnh và nhớ rằng 4 năm nữa họ phải bảo vệ chức vô địch.

Chiến thuật

Bilardo hứng chịu nhiều chỉ trích trước giải vì các lựa chọn nhân sự, nhưng ông bị hạn chế bởi việc thiếu những cầu thủ chạy cánh chất lượng cao và cũng không sở hữu những tiền đạo thực sự xuất chúng.

Nhưng ông biết đội bóng này sẽ xoay quanh ai: Maradona.

Mọi HLV ở giải đều hiểu điều đó, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng trao cho Maradona chiếc băng đội trưởng. Dù Bilardo rất chú trọng chiến thuật, thể lực, việc ngăn chặn đối thủ và giữ sạch lưới, ông lại cho các cầu thủ tự do trên phần ba sân cuối, và Maradona có một vai trò tự do đến mức khó tưởng tượng trong bóng đá hiện đại.

Theo nghĩa đó, có thể nói Bilardo mang hơi hướng “kiểu Ý”: phòng ngự chặt, sử dụng một hậu vệ thừa và hai người kèm rát, nhưng sẵn sàng trao toàn bộ niềm tin cho một thiên tài làm điều mình muốn ở phía trên.

Hệ thống chiến thuật cụ thể, như thường thấy với nhiều đội vô địch World Cup, đã thay đổi giữa giải.

Về tổng thể, đó là sơ đồ 3-5-2, một hệ thống khá mới mẻ thời điểm ấy, với Maradona đá phía sau hai tiền đạo trong những trận mở màn. Nhưng đến tứ kết gặp Anh, Bilardo loại Pedro Pasculli (một quyết định bất ngờ vì Pasculli chính là người ghi bàn thắng quyết định ở vòng trước gặp Uruguay) để đưa thêm một tiền vệ vào sân. Maradona khi đó trở thành tiền đạo lùi, đá ngay phía sau Valdano.

Hệ thống ấy cuối cùng trở thành sơ đồ mặc định của Argentina. Nhưng họ chỉ tình cờ tìm ra nó vào thời điểm khá muộn.

Ngôi sao của đội

Tiền vệ phòng ngự Hector Enrique vô danh… không, rõ ràng người đó là Maradona.
Đây là chiến dịch cá nhân xuất sắc nhất mà bất kỳ cầu thủ nào từng thể hiện ở một kỳ World Cup. Ngay cả Pele năm 1970 cũng không đạt đến đẳng cấp này, một phần vì Brazil khi ấy có tới bốn cầu thủ đẳng cấp thế giới khác bên cạnh Pele. Đội Brazil năm 1970 cũng không thật sự có một hệ thống chiến thuật rõ ràng, trong khi Argentina năm 1986 được xây dựng trọn vẹn xoay quanh một con người.

Hai bàn thắng đầu tiên của Argentina tại vòng chung kết, trong chiến thắng 3-1 trước Hàn Quốc ở trận mở màn, mang ý nghĩa biểu tượng. Hai lần, Maradona bị đối thủ phạm lỗi thô bạo. Hai lần, những quả đá phạt sau đó đều dẫn tới bàn thắng, do Valdano và Oscar Ruggeri ghi.

Câu hỏi xuyên suốt cả giải đấu là: làm sao để ngăn chặn Maradona? Bạn có nên cắt cử một người theo kèm, hay dùng hệ thống phòng ngự khu vực và yêu cầu mọi cầu thủ phải luôn để mắt đến anh?

Phòng ngự khu vực tỏ ra không hiệu quả. Vấn đề là kèm người cũng không hiệu quả nốt: Ý sử dụng đồng đội ở Napoli của Maradona là Salvatore Bagni để theo kèm anh trong trận hòa 1-1 ở lượt đấu thứ hai, nhưng Maradona vẫn thoát khỏi sự đeo bám ấy để ghi bàn gỡ hoà từ một góc sút hẹp. Uruguay giao nhiệm vụ cho Miguel Bossio ở vòng 1/8, nhưng Maradona đã có màn trình diễn mà sau này anh mô tả trong “World Cup Stories” là: “màn trình diễn hay nhất ở World Cup của tôi… vì tôi không thua bất kỳ tình huống một-chọi-một nào. Tôi vượt qua mọi cầu thủ Uruguay đối mặt. Tôi luôn xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ”.

Nhưng Maradona được nhớ nhiều nhất bởi những màn trình diễn trước Anh ở tứ kết, sẽ nói chi tiết ngay sau đây, và trước Bỉ ở bán kết. Trong hai trận thắng 2-1 và 2-0 ấy, anh ghi cả 4 bàn.

Trước Bỉ, anh mở tỷ số đầu hiệp hai khi băng xuống đón đường chọc khe của Jorge Burruchaga và dứt điểm khéo léo bằng má ngoài chân trái, rồi 12 phút sau, anh rê bóng qua 4 hậu vệ trước khi sút tung lưới.

Khoảnh khắc định nghĩa

Làm sao có thể tách chúng ra? Trong vòng 5 phút trước tuyển Anh tại sân vận động Azteca ở Mexico City, Maradona tạo ra hai trong số những khoảnh khắc nổi tiếng nhất lịch sử World Cup: sự ô nhục của bàn thắng bằng tay và sự thiên tài của pha solo.

Bối cảnh trước trận là cuộc Chiến tranh Falklands kéo dài 74 ngày giữa Argentina và Anh bốn năm trước đó. “Trong các buổi phỏng vấn trước trận, tất cả chúng tôi đều nói rằng bóng đá và chính trị không nên bị lẫn lộn”, Maradona viết trong tự truyện. “Nhưng đó là dối trá. Chúng tôi không nghĩ gì khác ngoài chuyện ấy. Mẹ kiếp, làm gì có chuyện đây chỉ là một trận đấu bình thường!”.

Không biện minh cho hành vi gian lận rõ ràng của Maradona, nhưng cần nhìn nhận rằng cách các cầu thủ Anh đối xử với anh trong trận đấu ấy là tồi tệ: hết lần này đến lần khác cố ý gây chấn thương bằng những cú vào bóng nguy hiểm và thúc cùi chỏ. 

Điều đó còn khủng khiếp hơn những gì Hàn Quốc và Uruguay đã làm trước đó. Và khi bạn xem lại các pha quay chậm cảnh cầu thủ Anh đá, thúc, hay đánh Maradona, bạn sẽ thấy khó mà thương cảm khi anh đấm bóng vào lưới sau pha phá bóng lỗi của Steve Hodge khiến bóng bay lên giữa anh và thủ môn Peter Shilton.

Và rồi, khi người Anh vẫn còn phẫn nộ về bàn mở tỷ số phút 51 đó, Maradona ghi bàn thắng cá nhân đẹp nhất lịch sử World Cup.

Pha bóng bắt đầu bằng hai cú kéo bóng để vượt qua Peter Beardsley và Peter Reid ở phần sân nhà, sau đó là cú tăng tốc để vượt Terry Butcher rồi Terry Fenwick, và cuối cùng (nhớ lại lần anh sút chệch ở Wembley sáu năm trước vì không đi vòng qua Shilton), anh lừa qua thủ môn và dứt điểm vào lưới trống.

“Trên một mặt sân tệ như vậy, việc anh ấy làm là điều thực sự phi thường”, Gary Lineker, tiền đạo của Anh trong trận đấu đó, nói với Talksport năm 2020. “Đó là lần duy nhất trong sự nghiệp tôi thật sự cảm thấy mình nên vỗ tay tán thưởng bàn thắng ấy. Một phần trong tôi cũng đau đớn. Đó chắc chắn là điều tuyệt nhất tôi từng thấy trên sân bóng. Đó là bàn thắng đẹp nhất từng được ghi”.

Và đó là bản tóm tắt hoàn hảo trong 5 phút về tất cả những gì thuộc về Maradona: tai tiếng và huy hoàng.

Bằng cách này hay cách khác, đây sẽ là giải đấu của Maradona.

Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết…

Maradona rê bóng vượt qua tổng cộng 53 cầu thủ ở giải đấu này. Con số đó đã lớn, nhưng so với phần còn lại thì càng choáng váng: người đứng thứ hai chỉ vượt qua 16 đối thủ. Đúng là anh chơi nhiều trận hơn phần lớn cầu thủ khác vì Argentina vào tới chung kết, nhưng Maradona vượt qua số đối thủ nhiều gấp ba lần bất kỳ ai khác.

Bàn thắng thứ hai của anh vào lưới Anh, dĩ nhiên, là ví dụ rõ rệt nhất cho khả năng rê bóng ấy. “Pha bóng đó gần như không thuộc về một thời đại lý trí như hiện nay, một giai đoạn mà những cầu thủ rê dắt gần như tuyệt chủng như loài thằn lằn bay pterodactyl,” Brian Glanville viết trên “The Times” (Anh).

Trận chung kết

Như Rob Fielder chỉ ra trong cuốn “Complete History of the World Cup”, ở trận chung kết World Cup 1986, Tây Đức đã làm điều họ từng thực hiện ở giải đấu năm 1966: dùng cầu thủ hay nhất của mình để theo kèm cầu thủ hay nhất của đối thủ. 

Năm 1966, đó là Franz Beckenbauer theo kèm Bobby Charlton của tuyển Anh. Hai mươi năm sau, đó là HLV Beckenbauer yêu cầu Lothar Matthäus phải bám sát Maradona. Và theo một cách nào đó, điều đó đã hiệu quả: Maradona có trận đấu trầm nhất trong bốn trận ở vòng knock-out, và anh bị phạt thẻ vàng khá sớm vì lỗi phản ứng.

Argentina được “hỗ trợ” bởi việc thủ môn Harald Schumacher của Tây Đức thi đấu tệ. Trong hiệp một, anh băng ra đấm bóng hụt từ một quả phạt góc, tạo điều kiện cho Jose Luis Brown đánh đầu vào lưới trống. Và 10 phút sau hiệp hai, anh lại chậm băng ra khép góc với Valdano, người có đủ thời gian để nhìn quanh, quan sát tình huống, chờ đồng đội hỗ trợ, rồi gần như miễn cưỡng dứt điểm thay vì chuyền bóng.

Argentina đang ung dung tiến đến chiến thắng.

Nhưng rồi tuyển Đức bất ngờ trở lại, khá giống những gì Pháp đã làm trước Argentina ở chung kết World Cup 2022. Beckenbauer thực hiện hai sự thay đổi mang thiên hướng tấn công, giúp gia tăng sức ép, dù không kéo theo sự sáng tạo.

Hai bàn của Tây Đức có những nét tương đồng: một quả phạt góc của Andreas Brehme, một cú đánh đầu nối vào khu vực 5m50, và một pha đánh đầu kết thúc. Đầu tiên là Rudi Völler đánh đầu nối cho Karl-Heinz Rummenigge ghi bàn, rồi hậu vệ Thomas Berthold đánh đầu nối cho Völler lập công. Tỷ số là 2-2 khi trận đấu bước sang phút 81. Argentina, có lẽ, đang trên bờ sụp đổ.

Nhưng thay vì sụp đổ, họ lại tìm được bàn quyết định chỉ ba phút sau khi bị gỡ hòa. Với việc Tây Đức thiếu hụt hậu vệ trên sân, và đã hết quyền thay người để gia cố hàng thủ, Argentina có khoảng trống để tấn công.

Cuối cùng, Maradona cũng tạo ra dấu ấn quyết định: anh tung đường chọc khe bằng nửa cú vô-lê cho Burruchaga, người chơi hay thứ hai của Argentina ở giải đấu này, băng xuống và nhẹ nhàng đưa bóng qua Schumacher, thủ môn gần như đứng yên.

Trong phần lớn thời gian của trận chung kết, có cảm giác Argentina sẽ thắng dễ; nhưng cuối cùng, họ lại thắng theo cách đầy kịch tính.

Họ có thực sự là đội mạnh nhất?

Trong một kỳ World Cup kỳ lạ, vốn được đánh giá là hấp dẫn dù không có nhiều đội thật sự vượt trội, những nghi ngờ dành cho Argentina xuất phát từ các quyết định trọng tài ở tứ kết và bán kết: bàn mở tỷ số của Maradona trước Anh rõ ràng không nên được công nhận, và Bỉ bị thổi việt vị oan hai lần khi đối mặt thủ môn ở thế 0-0 chỉ ba ngày sau.

Nhưng có lẽ công bằng khi nói rằng Argentina là đội mạnh nhất.

Pháp chơi một thứ bóng đá đẹp, nhưng cuối cùng vẫn thua 0-2 trước “đại kỵ” Tây Đức ở bán kết còn lại. Đan Mạch gây phấn khích ở vòng bảng nhưng bị Tây Ban Nha vùi dập 5-1 ở vòng 1/8. Còn Tây Đức tuy vào đến chung kết, nhưng chẳng ai nghĩ họ là đội mạnh, ngay cả chính họ.

Argentina không phải một tập thể xuất sắc từ vị trí 1 đến 11, nhưng họ là một đội bóng gắn kết, và họ sở hữu cầu thủ hay nhất World Cup 1986 một cách vượt trội so với phần còn lại.

Trung Nghĩa • 18:57 ngày 17/11/2025

Bài viết hay? Ấn để tương tác

Bình luận