
Johan Cruyff giờ chỉ còn là cái tên của miền ký ức quá khứ. Khói thuốc trắng phiêu lãng cả triệu lần bay ra từ đôi môi thanh tú của Cruyff đã làm xốp hóa các mô phổi của ông, rồi gửi ông lên đội bóng của Chúa vào 24/3/2016, để tiếp tục làm thủ quân cho Dream Team gồm những siêu anh hùng sân cỏ này.
Nhưng ngay cả khi Cruyff không còn tồn tại trên thế gian, người đời vẫn nhớ đến ông như nhà kiến tạo lịch sử vĩ đại của môn thể thao vua. Từ lúc phát hiện căn bệnh ung thư phổi cho tới lúc qua đời, Cruyff không còn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông.
Nhưng hễ khi nào câu chuyện về lò La Masia, sự thống trị của đế chế Catalonia hay lý thuyết bóng đá tổng lực được đề cập, cánh báo chí lại nhắc tới Cruyff. Vì trong mắt giới nghiên cứu và NHM, Cruyff là người thay đổi quan niệm về bóng đá, là người đặt nền móng một cách chính thức cho rất nhiều phát kiến chiến thuật sau này.
Trên trang mạng Bleacher Report, từng có hẳn một bài viết tri ân công lao của Cruyff với tựa đề “Giáo đường của Cruyff”. Rất nhiều HLV nổi tiếng, nhân cách lớn của làng túc cầu đương đại đều phảng phất dáng dấp phong thái và tinh thần của Thánh Johan.

Nói đến Cruyff là gợi nhớ về nhà kiến tạo lỗi lạc. Mà nhắc tới những thay đổi lớn lao Cruyff đã thực hiện, không thể bỏ qua động tác “vặn mình”, hay còn được biết đến dưới cái tên Cruyff Turn. Đó là kỳ World Cup1974 ở Đức, Hà Lan gặp Thụy Điển trong khuôn khổ vòng bảng.
Cruyff nhận bóng trong tư thế quay lưng bên cánh trái, theo sát bởi Jan Olsson. Ông hướng ánh mắt vào khu vực trung tâm, ra chân như thể sắp đẩy bóng cho tiền đạo bên trong rồi bất thình lình quay ngoắt 180 độ, loại bỏ Olsson. Động tác ấy là nền tảng kỹ thuật cho mọi bài giảng sau này.
“Giả sút” trở thành ngón đòn được các cầu thủ yêu thích, vì nó dễ làm nhất, nhưng hiệu quả cũng cao nhất. Trong tất cả những tổ hợp phím kỹ thuật trên máy điện tử tay cầm, trò “lườm rau gắp thịt” được người chơi tin dùng. Game thủ chỉ việc ấn nút chuyền và sút cùng lúc, thế là xong!
Thật khó để khái quát sự vĩ đại của Cruyff trong một bài báo. Cần hẳn nhiều đề tài nghiên cứu, sách vở viết về Cruyff. Nhưng cái tên Cruyff chưa cần tự nó xưng danh để trở nên vĩ đại.
Olsson, chàng hậu vệ bị Cruyff mang ra làm trò đùa cách đây 3 thập kỷ, đã nói với tác giả David Winner của cuốn Brilliant Orange thế này: “Tôi đã chơi bóng đỉnh cao 18 năm, khoác áo ĐTQG 17 lần. Nhưng khoảnh khắc bị Cruyff vượt mặt là giờ phút làm tôi… tự hào nhất trong sự nghiệp của mình. Tôi không thấy bị sỉ nhục, vì đối đầu với thiên tài đâu có gì là buồn chứ?”.

“Cruyff Turn” không đơn thuần là chiêu trò kỹ thuật. Nó bao quát một hệ giá trị đặc trưng không thể nhầm lẫn của Cruyff. Dù chỉ là một động tác hình thể rất đơn sơ, nhưng cứ mỗi lần Cruyff “quay lưng” là một chân trời mới với biết bao điều kỳ thú được mở ra.
Giới mộ điệu yêu mến, tôn sùng ông như thờ phụng một vị thánh của một tín ngưỡng là vì Cruyff đi đến thành công bằng một chu trình được đơn giản hóa cực tiểu với trí tưởng tượng cực đại. Đứng thẳng và quay lưng, Cruyff cứ thế lần lượt chinh phạt những cột mốc.
Sau khi cha Cruyff qua đời, mẹ ông chuyển tới làm nhân viên lao công ở Ajax. Bà Nel luôn mong mỏi con mình, với trí tuệ hơn người, tu chí học hành để cải thiện cuộc sống gia đình sau này. Tuy nhiên, môi trường học thuật không phù hợp với Cruyff.
Mẹ ông đi bước nữa, tái hôn với ông chú Hank, người quản lý sân Ajax. Hàng ngày, thay vì đá bóng, Cruyff lẽo đẽo theo bố dượng, học dùng máy ủi cỏ, căng lưới, sơn đường kẻ biên. Ít lâu sau, Cruyff phụ trách vài việc văn phòng lặt vặt như pha trà, lau giày cho các anh lớn, dọn dẹp phòng thay đồ.

Một thời gian nữa, Cruyff gia nhập đội… “ball boy” – những đứa trẻ đi nhặt bóng. Ông chọn công việc này vì dễ quan sát, tiếp cận diễn tiến trận đấu. Chung kết European Cup 1962 (Benfica thắng Real Madrid), Cruyff lần đầu cảm nhận bầu không khí bóng đá đỉnh cao. Ký ức của cậu bé 15 tuổi là tài năng siêu việt của Di Stefano.
Cruyff nghĩ rằng, rồi ông sẽ có sân khấu của riêng mình. Hai năm sau, Cruyff trình làng khán giả thế giới, bắt đầu hành trình sân cỏ. Thời điểm này, sân cỏ thế giới bắt đầu được khai sáng bằng thứ triết lý “Total Football” mà Cruyff là nhân vật chủ đạo khai quang điểm nhãn.
Trước thềm World Cup 1974, bóng đá Hà Lan đã mở mày mở mặt với chiến tích CLB Ajax Amsterdam đoạt cúp C1 châu Âu 3 lần liên tiếp. Điểm chung quan trọng: lối chơi của Ajax cũng như ĐT Hà Lan do HLV Rinus Michels xây dựng. Và Cruyff là hạt nhân của lối chơi ấy.
Về lý thuyết, lối chơi "totall" mà ĐT Hà Lan làm cả thế giới say mê tại World Cup 1974 dựa trên khả năng thay vai và hoán chuyển vị trí của các cầu thủ. Tiền đạo cũng biết phòng ngự trong khi hậu vệ cũng biết tấn công. Bây giờ, những điều này là quá bình thường, nhưng đấy là một cuộc cách mạng ở thời điểm 40 năm trước.
Nhưng trên thực tế, giá trị của bóng đá "totall" còn vượt rất xa so với cách định nghĩa thô thiển về nó. Với người Hà Lan, ý tưởng luôn là lẽ sống. Ý tưởng về cách khai thác không gian lại càng quan trọng đối với xứ sở luôn có quỹ đất hạn hẹp và điều kiện tự nhiên cực kỳ khó khăn này.

Hậu vệ cánh của Hà Lan thời ấy không tấn công "hùng hục" như Alphonso Davies hoặc Achraf Hakimi của kỷ nguyên hiện đại. Khi một hậu vệ cánh phải chạy 70m để tấn công thì các cầu thủ khác hoán chuyển vị trí để hậu vệ cánh phải ấy không phải chạy về.
Hệ quả là họ tiết kiệm sức và càng đến cuối trận thì các cầu thủ Hà Lan càng vượt trội về thể lực, chứ kỳ thực, họ không khỏe hơn đối phương. Đấy chỉ là một ví dụ về ý tưởng của bóng đá Hà Lan. Ví dụ khác: trên cùng một mặt sân, hễ đối phương có bóng thì Hà Lan dâng cao hàng hậu vệ khiến diện tích "hợp lệ" (theo luật việt vị) của đối phương bị thu hẹp. Còn khi có bóng, Hà Lan trải rộng đội hình, làm cho diện tích thi đấu của họ lớn hơn đối phương.
Ý tưởng tuyệt vời, khả năng huấn luyện xuất sắc của Rinus Michels, cùng kỹ thuật điêu luyện của Cruyff và đồng đội đã làm nên "cơn lốc màu da cam" khét tiếng tại World Cup 1974. Họ thắng như chẻ tre, cho đến... phút thứ 25 của trận chung kết World Cup 1974.
Trong 25 phút đầu của trận chung kết khét tiếng với nhà ĐKVĐ EURO 1972 Tây Đức, Cruyff và đồng đội chơi hay đến nỗi cứ như đối thủ của họ chỉ là một đội "phong trào". Kỳ thực, ĐT Tây Đức với xương sống gồm Sepp Maier, Franz Beckenbauer, Wolfgang Overath, Gerd Mueller... cũng rất mạnh

Chưa bao giờ có một trận chung kết World Cup kỳ lạ như vậy. Các nghệ sĩ Hà Lan cứ chuyền mãi, như thêu hoa dệt gấm, như loại hình Tiqui-taca ở thời kỳ tuyệt đỉnh, mà suy cho cùng thì cũng do Cruyff đem đến Barcelona cách đây vài chục năm.
Thủ môn Maier là cầu thủ Tây Đức đầu tiên chạm được vào quả bóng trong trận chung kết World Cup 1974. Và Maier chỉ được chạm bóng khi ông... vào lưới nhặt nó ra, sau bàn mở tỷ số của Hà Lan!
Gần như lập tức, Hà Lan chia thành 2 phe ngay trên sân. Một bên chỉ muốn trình diễn, muốn biến đội Tây Đức thành những gã hề. Họ nghĩ đến nỗi đau vẫn còn âm ỉ từ đệ nhị thế chiến. Phe kia thì muốn tranh cúp, muốn bảo vệ thành quả. Tệ hơn, hai phe chẳng muốn chuyền cho nhau nữa.
Họ tranh cãi ngay trên sân, khi bóng văng ra biên. Và họ bị Tây Đức trừng phạt với tỉ số 2-1. Đó là kết cục vô cùng bi thảm với Người Hà Lan Bay, khi họ là đội chơi hay và hoa mỹ nhưng không phải là nhà vô địch. Cruyff đau đớn vì thất bại này rất lâu về sau.
Thế nên, mới có một câu truyện ngụ ngôn thế: Một ông bố người Đức dắt con trai đến sát biên giới Đức - Hà Lan, chỉ tay qua bên kia biên giới và nói: “Con trai à, kia là đất nước của những nghệ sĩ”. Cùng lúc đó, một ông bố người Hà Lan cũng chỉ tay theo hướng ngược lại và nói với con: “Hãy nhớ, kia là mảnh đất của những nhà vô địch”.

Mùa hè 1983, Cruyff 36 tuổi, vừa giúp Ajax giành cú đúp quốc nội. Ngặt nỗi, Ajax không đề nghị gia hạn hợp đồng. Nhiều người tin rằng, đó là điểm dừng chân của Cruyff. Ông sẽ giải nghệ để khép lại sự nghiệp huy hoàng thật viên mãn. Một lần nữa, Cruyff quay lưng, chuyển đến đầu quân cho Feynoord.
Ông Henk nghi ngại bước đi ấy có thể hủy hoại danh tiếng Cruyff dày công gây dựng. Bởi Feynoord bấy giờ đang ngắc ngoải, vùng vẫy tìm lại ánh hào quang xưa cũ. Gần 10 năm, đội chỉ giành được một danh hiệu, cúp KNVB. Nỗi lo ấy càng sát với thực tại, khi Feynoord thảm bại 2-8 trước Ajax ở trận lượt đi.
Cuối cùng, mùa bóng 1983/84 khép lại với chức vô địch cho Feynoord, và Cruyff nhận giải thưởng “Cầu thủ xuất sắc nhất mùa” do hiệp hội nhà báo thể thao Hà Lan bình chọn. Phải đến lúc ấy, Cruyff mới chịu giải nghệ.
Cruyff ở đâu đó giữa J.M.N Turner và Pablo Picasso, giữa một nghệ nhân tinh xảo và một nhà cách mạng với những ý tưởng táo bạo. Nếu bóng đá là nghệ thuật, thì những cú “quay lưng” của Cruyff chắc chắn là hương liệu chủ đạo cho các sản phẩm mỹ học.
Rất nhiều ngôi sao sân cỏ đưa kỹ thuật bóng đá lên mức hoàn thiện, nhưng chỉ duy nhất một Cruyff biến giấc mơ thành vật thể hữu hình vào cuộc sống, để những ý tưởng đó có cơ hội sinh sôi nảy nở. Chính vì thế, ông mới gần với định mệnh nghệ sĩ hơn là nhà vô địch.
Mexico
Nam Phi
Sân Azteca (Mexico City)
Hàn Quốc
CH Séc
Canada
Bosnia & Herz.
Mỹ
Paraguay
Qatar
Thuỵ Sĩ
Brazil
Maroc
Mexico
Hàn Quốc
Nam Phi
CH Séc
Canada
Bosnia & Herz.
Qatar
Thụy Sĩ
Brazil
Haiti
Morocco
Scotland










