
Giá vàng ghi nhận đà tăng mạnh trong suốt tuần qua trên cả thị trường thế giới và trong nước, trong bối cảnh đồng USD suy yếu. Sáng 23/8, giá vàng miếng SJC tại VietinBank Gold được niêm yết ở mức 144,6 triệu đồng/lượng mua vào và 147,6 triệu đồng/lượng bán ra.
So với cuối tuần trước, mỗi lượng vàng miếng SJC tăng 3,6 triệu đồng. Tuy nhiên, do chênh lệch giá mua và bán được duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng, người mua vàng từ cuối tuần trước nếu bán ra hiện chỉ còn khoản lãi khoảng 600.000 đồng/lượng.
Với vàng nhẫn, VietinBank Gold niêm yết vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ ở mức 144,1 - 147,1 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ được niêm yết ở mức 144,1 - 147,2 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn SJC 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ có giá 144,1 - 147,1 triệu đồng/lượng.

Vàng nhẫn SJC loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ được niêm yết ở mức 144,1 - 147,2 triệu đồng/lượng. Như vậy, theo bảng giá VietinBank Gold, giá vàng nhẫn vẫn thấp hơn vàng miếng SJC khoảng 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra đối với loại phổ biến.
Đáng chú ý, theo thông tin thị trường được cung cấp, vàng nhẫn tại DOJI và Bảo Tín Minh Châu sau 1 tuần đã tăng khoảng 5 triệu đồng/lượng, lên sát mốc 150 triệu đồng. Hai doanh nghiệp này cùng mua vào ở mức 145,5 triệu đồng/lượng và bán ra 149,5 triệu đồng/lượng, với chênh lệch mua bán 4 triệu đồng/lượng, qua đó người mua từ cuối tuần trước chỉ còn lời khoảng 1 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng cũng tăng mạnh trong tuần, lên 4.602 USD/ounce, cao hơn hơn 226 USD so với cuối tuần trước. Kim loại quý vượt qua các ngưỡng tâm lý và kỹ thuật quan trọng tại 4.500 USD/ounce trong bối cảnh Bộ Tài chính Mỹ công bố kế hoạch tăng gấp đôi quy mô mua lại trái phiếu dài hạn.
Ở thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.900 đồng mua tiền mặt, 25.930 đồng mua chuyển khoản và 26.310 đồng bán ra.

EUR ở mức 29.727,25 - 30.027,53 - 31.294,81 đồng; GBP ở mức 34.705,55 - 35.056,11 - 36.179,17 đồng; JPY ở mức 158,61 - 160,21 - 169,55 đồng.
AUD được niêm yết ở mức 18.258,85 - 18.443,28 - 19.034,13 đồng; SGD ở mức 20.036,31 - 20.238,70 - 20.928,89 đồng; THB ở mức 704,91 - 783,23 - 816,45 đồng.
CAD ở mức 18.495,45 - 18.682,28 - 19.280,78 đồng; CHF ở mức 31.785,67 - 32.106,74 - 33.135,31 đồng; HKD ở mức 3.237,68 - 3.270,38 - 3.395,47 đồng.
CNY được niêm yết ở mức 3.787,70 - 3.825,96 - 3.948,53 đồng; DKK ở mức 4.006,64 - 4.159,89 đồng; INR ở mức 271,40 - 283,08 đồng và KRW ở mức 16,30 - 18,11 - 19,65 đồng.























