
Sáng 29/8, giá vàng thế giới được niêm yết trên Kitco ở mức 4.455 USD/ounce, giảm 153 USD/ounce so với đầu giờ sáng qua. Kim loại quý chịu áp lực bán mạnh khi đồng USD tăng giá và lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên sau phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh.
Ông Warsh nhấn mạnh ưu tiên kiểm soát lạm phát của Fed và cảnh báo lạm phát dai dẳng vẫn là rủi ro lớn. Bên cạnh đó, số liệu việc làm chuẩn do Bộ Lao động Mỹ điều chỉnh cho thấy số việc làm trong tháng 3/2026 trước đó được ước tính cao hơn thực tế khoảng 79.000 việc làm.
Sau những thông tin trên, xác suất thị trường dự báo Fed tăng lãi suất trong tháng 9 tăng từ 35,9% lên 57,5%. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 2 năm tăng 11,8 điểm cơ bản lên 4,348%, trong khi chỉ số USD tăng 0,5% trong ngày, gây sức ép lên giá vàng.

Trái ngược với diễn biến trên thị trường quốc tế, giá vàng trong nước sáng 29/8 lại tăng. Giá vàng miếng SJC được niêm yết ở mức 147,2 triệu đồng/lượng mua vào và 150,2 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 200.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều so với rạng sáng qua.
Theo bảng giá VietinBank Gold, vàng miếng SJC dạng 1 lượng cũng đang được niêm yết ở mức 147,2 - 150,2 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ có giá 146,7 - 149,7 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ ở mức 146,7 - 149,8 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn SJC 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ được VietinBank Gold niêm yết ở mức 146,7 - 149,7 triệu đồng/lượng, còn loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá 146,7 - 149,8 triệu đồng/lượng. Nữ trang VGJ và SJC 9999% cùng được niêm yết ở mức 144,2 - 148,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn SJC trên thị trường cũng tăng 200.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều, lên 146,7 - 149,7 triệu đồng/lượng. Như vậy, diễn biến giá trong nước đang đi ngược khá rõ so với thị trường quốc tế.

Ở thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.850 đồng mua tiền mặt, 25.880 đồng mua chuyển khoản và 26.260 đồng bán ra.
EUR ở mức 29.557,34 - 29.855,90 - 31.139,91 đồng; GBP ở mức 34.483,57 - 34.831,89 - 35.975,46 đồng; JPY ở mức 157,55 - 159,14 - 168,55 đồng.
AUD có giá 18.270,20 - 18.454,74 - 19.060,63 đồng; SGD 19.969,80 - 20.171,51 - 20.875,48 đồng; THB 697,95 - 775,50 - 809,01 đồng.
CAD được niêm yết ở mức 18.330,41 - 18.515,57 - 19.123,46 đồng; CHF 31.602,12 - 31.921,33 - 32.969,34 đồng; HKD 3.230,11 - 3.262,74 - 3.390,15 đồng.
CNY có giá 3.779,28 - 3.817,45 - 3.942,78 đồng; DKK 3.984,23 - 4.139,81 đồng; INR 271,56 - 283,47 đồng và KRW 16,43 - 18,25 - 19,82 đồng.























