
Mở cửa phiên sáng 25/8, giá vàng trong nước tiếp tục được điều chỉnh tại một số thương hiệu. Trong khi vàng miếng SJC giữ nguyên mức giá so với phiên trước, vàng nhẫn tại DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải tăng mạnh.
Theo bảng giá VietinBank Gold cập nhật ngày 25/8, vàng miếng SJC được niêm yết ở mức 147 triệu đồng/lượng mua vào và 150 triệu đồng/lượng bán ra, chênh lệch giữa 2 chiều mua bán là 3 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ được niêm yết ở mức 146,5 - 149,5 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ có giá 146,5 - 149,6 triệu đồng/lượng.
Vàng nhẫn SJC 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ cũng được VietinBank Gold niêm yết ở mức 146,5 - 149,5 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ ở mức 146,5 - 149,6 triệu đồng/lượng.

Đối với nữ trang 9999%, nữ trang VGJ được niêm yết ở mức 143,5 - 148 triệu đồng/lượng, còn nữ trang SJC ở mức 144,6 - 149,1 triệu đồng/lượng.
Ở các thương hiệu khác, vàng nhẫn Kim Gia Bảo tại Bảo Tín Mạnh Hải được giao dịch quanh mức 149 triệu đồng/lượng mua vào và 153 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 1,5 triệu đồng/lượng so với phiên trước.
DOJI niêm yết vàng nhẫn ở mức 149 - 153 triệu đồng/lượng, tăng 2,5 triệu đồng/lượng so với phiên trước đó. Trong khi đó, SJC giữ giá vàng nhẫn ở mức 146,5 - 149,5 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay được ghi nhận ở mức 4.682,06 USD/ounce, tăng 66,34 USD/ounce, tương đương 1,44% trong 24 giờ. Quy đổi theo tỷ giá hiện tại, chưa bao gồm thuế và phí, giá vàng thế giới tương đương khoảng 148,8 triệu đồng/lượng.
Thị trường vàng mở màn tuần giao dịch mới với đà tiến về mốc 4.700 USD/ounce, hiện neo ở vùng giá cao nhất trong khoảng 15 tuần. Giới phân tích nhận định đà tăng mới phản ánh sự trở lại của chiến lược phòng ngừa rủi ro mất giá tiền tệ, sau khi Bộ Tài chính Mỹ thông báo kế hoạch thu mua trái phiếu kỳ hạn dài nhằm kéo giảm chi phí vay vốn.

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 25.950 đồng mua tiền mặt, 25.980 đồng mua chuyển khoản và 26.360 đồng bán ra.
EUR ở mức 29.751,05 - 30.051,57 - 31.319,77 đồng; GBP ở mức 34.772,04 - 35.123,27 - 36.248,37 đồng; JPY ở mức 158,69 - 160,29 - 169,64 đồng.
AUD được niêm yết ở mức 18.242,82 - 18.427,09 - 19.017,37 đồng; SGD ở mức 20.069,95 - 20.272,68 - 20.963,97 đồng; THB ở mức 706,48 - 784,97 - 818,26 đồng.
CAD ở mức 18.425,13 - 18.611,25 - 19.207,42 đồng; CHF ở mức 31.798,92 - 32.120,12 - 33.149,02 đồng; HKD ở mức 3.245,54 - 3.278,32 - 3.403,70 đồng.
CNY được niêm yết ở mức 3.794,28 - 3.832,61 - 3.955,38 đồng; DKK ở mức 4.009,74 - 4.163,10 đồng; INR ở mức 271,76 - 283,46 đồng và KRW ở mức 16,38 - 18,20 - 19,74 đồng.
























