
Sáng 13/8, giá vàng thế giới trên Kitco được niêm yết ở mức 4.399 USD/ounce, tăng 30 USD/ounce so với đầu giờ sáng qua. Đà tăng được thúc đẩy sau khi dữ liệu mới nhất cho thấy áp lực lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt trong tháng trước, phù hợp với dự báo của giới chuyên gia.
Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn phần tăng 0,1% trong tháng 7, sau khi giảm 0,4% trong tháng 6. Tính theo năm, CPI tăng 3,4% trong 12 tháng qua, thấp hơn mức 3,5% của tháng trước và đúng với dự báo của các nhà kinh tế.
Tại VietinBank Gold, giá vàng miếng SJC đang được niêm yết ở mức 141,6 - 144,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Vàng nhẫn VGJ 9999 loại 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ và vàng nhẫn SJC 9999 cùng được niêm yết ở mức 141,1 - 144,1 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ ở mức 141,1 - 144,2 triệu đồng/lượng.
Giá nữ trang VGJ 9999 và SJC 9999 tại VietinBank Gold hiện cùng ở mức 138,1 - 142,6 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa giá mua và bán vàng miếng SJC đang ở mức 3 triệu đồng/lượng.

Với mức giá 4.399 USD/ounce, quy đổi theo tỷ giá bán USD tại Vietcombank là 26.250 đồng/USD, giá vàng thế giới tương đương khoảng 139,2 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí. Như vậy, giá vàng miếng SJC bán ra tại VietinBank Gold đang cao hơn giá vàng thế giới quy đổi khoảng 5,4 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, theo mức giá được ghi nhận trong phiên trước, vàng miếng SJC tại thị trường trong nước cũng tăng mạnh. Giá vàng nhẫn SJC tiếp tục duy trì ở vùng cao, trong bối cảnh thị trường quốc tế đang phản ứng tích cực với những tín hiệu mới về lạm phát và chính sách tiền tệ của Mỹ.
Trên thị trường ngoại tệ, Vietcombank niêm yết USD ở mức 25.840 đồng mua tiền mặt, 25.870 đồng mua chuyển khoản và 26.250 đồng bán ra.
EUR được niêm yết ở mức 29.272,94 - 29.568,63 - 30.816,65 đồng; GBP ở mức 34.265,19 - 34.611,30 - 35.720,24 đồng; JPY ở mức 157,89 - 159,49 - 168,79 đồng.

Với các đồng tiền khác, AUD được niêm yết ở mức 17.929,93 - 18.111,04 - 18.691,31 đồng; SGD ở mức 19.829,34 - 20.029,64 - 20.712,77 đồng; THB ở mức 694,99 - 772,21 - 804,97 đồng.
CAD được Vietcombank niêm yết ở mức 18.222,57 - 18.406,64 - 18.996,38 đồng; CHF ở mức 31.255,99 - 31.571,71 - 32.583,26 đồng; HKD ở mức 3.227,44 - 3.260,04 - 3.384,74 đồng.
Trong khi đó, CNY được niêm yết ở mức 3.766,50 - 3.804,54 - 3.926,44 đồng; DKK ở mức 3.944,66 - 4.095,56 đồng ở hai chiều mua chuyển khoản và bán ra; INR ở mức 271,80 - 283,50 đồng.
KRW được Vietcombank niêm yết ở mức 15,95 đồng mua tiền mặt, 17,73 đồng mua chuyển khoản và 19,23 đồng bán ra.

















_m.jpg)








